=

Quê Bắc

18 tuổi, ngưỡng cửa của sự trưởng thành, tôi luôn muốn làm điều mà tôi muốn chạm vào bấy lâu nay, một lần được ra Hà Nội đón gió mùa về. Một Hà Nội trong câu chuyện của ba từng kể, mùa đông năm ấy, bắc nam chia cắt hai miền, ông đưa bà và ba di cư vào trong nam. Từ đó tới giờ cả gia đình chưa một lần thăm lại quê bắc. Gọi là Quê bắc vì nơi ấy có tình yêu của ông với bà, nơi ấy là nơi kí ức tuổi thơ của ba đọng lại. Còn tôi sinh ra và lớn lên ở quê của má, miền Tây sông nước, lớn lên với con kênh với ghe thuyền, nhưng vẫn có hai tiếng “Quê bắc” thân thương đâu đó trong lòng. Là nơi tôi luôn muốn tìm về.
Tôi đã cố gắng dành dụm tất cả số tiền ăn vặt của má cho, dồn lại vừa đủ cho một chuyến đi, trở về thăm Quê Bắc. Tôi lên kế hoạch hết sức chi tiết và tỉ mỉ. Cái cảm giác vừa thích, vừa sợ, sợ bởi lần đầu xa nhà lâu đến thế, đến một nơi không còn người thân nhưng không hiểu sao lại có cảm giác thân thuộc đến lạ. Hay bởi đấy người ta gọi là về quê.
VCA-HAN, 6h15 ngày 02/10. Một thằng bé nói giọng miền Tây đặc sệt, lần đầu đặt chân đến Hà Nội, hít hà vội cái hương thơm của Thủ đô. Ngay đâu đó trong gió có cái mùi hăng hắc, càng rảo bước nhanh trên vỉ hè, tôi càng cố hít cái mùi nồng nồng này, mỗi bước chân đi quấn quýt theo phảng phất mùi này càng gần, gần hơn nữa. Được một đoạn dăm ba trăm mét, mùi sộc thẳng vào mũi, ngẩng mặt lên, ngay trước mặt là một dãy dài những cây tán xoè, hoa nở chùm trắng ngà ngà.



À, Hoa sữa, đúng rồi, chính là hoa sữa. Cái mùi đăc trưng của con phố Hà Nội mỗi dịp thu đi đông tới. Cái mùi mà kẻ yêu người ghét. Tôi gọi mùi này là mùi của ông nội. Sở dĩ gọi là mùi của ông nội bởi trong trang nhật ký của ông gói gén thứ mùi nồng nàn này trong từng câu chữ, trong từng kỷ niệm. Ngày ấy, mỗi đêm sau giờ tan ca của xưởng nhà máy ông thường chở bà trên chiếc xe đạp Liên xô cũ đi men theo con phố về nhà, hương hoa quấn quýt vương trên tóc và trên cả đôi môi của bà nội tôi nữa

Mùa đông Hà Nội lạnh lắm, lấy hai tay xoa xoa vào nhau, thở ra một cái là thấy khói bay ra, cảm giác thật thích, tuy lạnh nhưng ấm lòng. Ở miền tây, người ta gọi gia đình tôi là bắc kỳ, bởi những gia đình miền bắc di cư do chiến tranh năm đó vào nam sinh sống và lập nghiệp nhưng vẫn mang bản sắc của người miền bắc. Ba kể lại rằng mấy năm đầu vào đây, ba còi nhom. Do không ăn quen vị ngọt của miền Tây, mà suốt ngày đòi ăn phở, vị phở Hà Nội, ngọt nhưng là ngọt thanh của nước xương hầm. Cái vị thanh tao như chính con người Hà Nội tạo nên vậy. Bà nội tôi nấu phở ngon lắm. Ba kể lại trong cái cảm giác tiếc nuối, vừa nhớ, vừa thương. Bà nội mất sớm, nên tôi không được nếm thứ nước dùng đặc trưng của quê Bắc.

Mải mê với những con đường theo lời kể của ba, những con ngõ dài và chật hẹp, men theo lối cũ cầu thang, hành lang và khung cửa sổ, bụng bắt đầu thấy đói. Và tôi lao đi tìm một thứ vị bấy lâu nay thèm, đó là vị của bà nội, vị phở Hà Nội. Ngay bên trong con ngõ nhỏ có hai bên tường sơn màu vàng đã cũ, gánh hàng phở đông kín cả lối đi. Tôi thấy chỉ có hai bên thúng, một bên là nồi nước dùng, một bên là bày các nguyên liệu, nào là bánh phở, thịt bò, thịt gà, hành, quẩy, ... chỉ đơn giản vậy thôi mà chất chứa bao tinh túy chắt lọc của người Hà Thành xưa. Trời lạnh, phở nóng, khói bay nghi ngút làm cho mọi thứ hoà quện với nhau một cách ăn ý đến lạ. Không thừa, không thiếu mà là vừa đủ.
Ba từng kể, trẻ con hồi đấy không đi nhà trẻ, mà ở trong nhà thường ra phía sau khung sắt được cơi nới chòi ra không trung của gian nhà tập thể trật hẹp để chơi một mình hoặc bắt chuyện với những đứa trẻ đồng chăng lứa xung quanh. Dường như phía ban công sắt ấy chứa kỷ niệm của ba cùng bao thứ đồ lỉnh kỉnh, nào là thau, chậu, và ti tỉ thứ đồ cũ nhưng chưa hỏng, trong cái thời thiếu thốn đủ thứ này, thì có đã là may mắn nên người ta không nỡ vứt đi. Tôi loanh quanh, khó khăn lắm mới hỏi thăm và tìm đến một khu tập thể đã cũ từ rất lâu, tôi muốn tìm lại hình ảnh ban công song sắt mang về miền Tây để ba ngắm, để ba nhớ lại tuổi thơ của mình những ngày còn ở quê Bắc.
Trời bắt đầu có mưa lất phất rồi nặng hạt dần, gió bắt đầu đem theo hơi lạnh của cái lạnh đầu mùa. Tôi muốn nếm cái vị rét mà người ta hay nói là cắt da, cắt thịt nhưng với một thằng bé mà chỉ cái lạnh se se của Đà Lạt thôi đã bị chảy máu cam thì có lẽ cái lạnh như bây giờ là một sự liều lĩnh rồi. Trước khi ra đây, má có mua cho tôi chiếc áo phao có mũ, má nói ngoài này lạnh lắm, con nhớ giữ ấm cổ họng và tay. Tôi lôi áo từ trong ba lô ra mặc lên người, chùm kín mũ qua khỏi đầu, che kín tai, khéo khoá lên sát cổ và đút hai tay vào trong túi áo, tiếp tục lang thang hít hà, ngắm nhìn quê hương. Tôi muốn ôm trọn khoảnh khắc này, các ngóc ngách này qua từng bức ảnh.
Chuyến đi xa nhất từ trước đến giờ của tôi đến một vùng đất mới, không phải là du lịch khám phá mà chính là về quê, là nơi tôi tìm về theo kí ức của ông bà nội, theo kỷ niệm thơ ấu của ba. Dòng người cứ vội vã chen nhau sau giờ tan làm chiều, mưa cũng bắt đầu ngớt, trời nhá nhem tối và các biển hiệu, đèn đường đã bắt đầu lên đèn. Tôi chợt nhớ, mình có một lời hẹn gặp tôi ở con phố đông Hà Nội tấp nập người qua lại. Liệu cô bé nhà ở ghe bên cạnh, thường cùng tôi leo trèo trên mấy thân cây dừa nước chòi ra song năm ấy phải theo ba má ra ngoài này có còn nhớ tôi, có còn nhớ lời hẹn năm nào ?
Tác giả: Đỗ Ngọc Hân - P. KSTTQT